Những lợi ích mà chủ đầu tư có được khi thực hiện hoạt động đánh giá môi trường

Đầy là một trong những nội dung chính KTSG Online ghi nhận qua buổi trao đổi với TS. Phạm Khánh Nam, Viện trưởng Viện Kinh tế Môi trường Đông Nam Á [EEPSEA], Giám đốc Trung tâm Môi trường cho Phát triển Việt Nam [EfD-Vietnam]. Cuộc trao đổi xoay quanh câu chuyện cân bằng mối quan hệ lợi ích giữa hệ sinh thái, chủ đầu tư, nhà quản lý và xã hội tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam.

TS. Phạm Khánh Nam. Ảnh: NVCC.

KTSG Online: Trong thời gian qua công chúng phản ứng rất mạnh về nhiều dự án lùm xùm vấn đề môi trường. Như vậy, việc quản lý và kiểm soát các hoạt động đầu tư dự án tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới sẽ phải được quan tâm và siết chặt hơn nữa phải không, thưa ông?

- Ông Phạm Khánh Nam: Khái niệm Khu dự trữ sinh quyển được UNESCO đưa ra vào khoảng đầu thập niên 70, sau khi nhận thấy việc quản lý ở Khu bảo tồn còn nhiều vấn đề. Nguyên nhân vì công cụ quản lý của khu bảo tồn thông thường là cấm khai thác, nhưng người dân sống khu vực xung quanh vẫn khai thác tài nguyên thiên nhiên, mà lực lượng hành pháp không thể nào ngăn cản được vì áp lực sinh kế quá lớn.

Không gian được mở rộng thành Khu dự trữ sinh quyển và được chia thành ba vùng. Trong đó vùng lõi về mặt bản chất có chức năng là bảo tồn và hỗ trợ công tác văn hóa khoa học giáo dục, còn vùng đệm và vùng chuyển tiếp còn có chức năng phát triển kinh tế xã hội, cho phép người dân và chính quyền cùng tham gia khai thác, sử dụng hàng hóa dịch vụ tài nguyên môi trường mà hệ sinh thái đó mang lại.

Còn vùng chuyển tiếp thì cho phép thêm doanh nghiệp hoạt động. Đây cũng là chủ thể có sức mạnh hơn hẳn nông dân. Họ thực hiện các dự án phát triển, ví dụ xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, bến cảng, đô thị. Những dự án này nằm trong khu dự trữ sinh quyển [KDTSQ] cần tuân theo nguyên tắc đầu tiên là chỉ được nằm trong vùng chuyển tiếp, tất nhiên còn phải tuân theo quy ước trong các hiệp ước quốc tế đã ký.

Ngoài yếu tố “không gian chuyển tiếp” thì các quy định hiện hành có liên quan đến môi trường liệu đã đầy đủ chưa, thưa ông?

- Theo quy định, một dự án phải đánh giá tác động về môi trường, xem ảnh hưởng về số lượng và chất lượng như thế nào. Dự án đó phải xem trong quá trình xây dựng và vận hành bao nhiêu ha rừng bị mất, ảnh hưởng như thế nào về môi trường, suy thoái đất, đa dạng sinh học v.v.đánh giá độc lập và được các bên liên quan, các bên thụ hưởng, cộng đồng có ý kiến. Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan thì nhiều đánh giá tác động môi trường chỉ mang tính hình thức vì chưa thực sự chỉ ra tác động đúng của dự án đến môi trường trong cả hiện tại và tương lai.

Hệ quả về môi trường thì chúng ta đều đã thấy rõ trong thời gian qua, như các dự án thủy điện chẳng hạn. Hay các nhà máy sản xuất giấy, chế biến thủy sản, dù có đánh giá tác động môi trường ở ĐBSCL đều không đầy đủ hoặc không thực chất. Người dân ở xung quanh hạ nguồn phản đối vì nước sông ô nhiễm không tưới tiêu được, hay nhiều hệ lụy khác như cạn nguồn nước ngầm do tăng khai thác, sụt lún,…

Kinh nghiệm quốc tế là cần phải có quy định về việc phân tích lợi ích chi phí, tức phải quy thành giá trị bằng tiền những tác động môi trường của dự án. Phân tích lợi ích chi phí sẽ chỉ ra dự án này có thực sự đem lại lợi ích cho xã hội hay không, còn đánh giá tác động môi trường chỉ cho thấy tăng giảm, hay suy thoái môi trường hay không, chứ không chỉ ra giá trị lợi ích của môi trường là bao nhiêu, là lớn hay nhỏ.

Ví dụ một dự án xóa sổ 100 ha rừng để xây dựng, thì trong đánh giá tác động môi trường chỉ báo cáo đánh giá rằng rừng giàu hay nghèo đi bao nhiêu về mặt số lượng và chất lượng, còn phân tích lợi ích chi phí thì phải ước lượng được giá trị mất đi bằng tiền là bao nhiêu.

Một góc rừng ngập mặn ở Cần Giờ. Sau khi được Chính phủ đồng ý điều chỉnh diện tích Khu đô thị lấn biển Cần Giờ từ 600ha lên 2.870ha, với tổng mức đầu tư hơn 217.000 tỉ đồng, vào năm ngoái, UBND TPHCM vào tháng 2-2021 đã ban hành 4 quyết định duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ, huyện Cần Giờ đối với các phân khu A, B, C, D, E. Ảnh: D.Nguyễn

Ước lượng bằng tiền cụ thể thì có ý nghĩa gì, thưa ông?

Nguyên tắc của phân tích lợi ích chi phí là tính toán toàn bộ giá trị thiệt hại tác động môi trường, hệ sinh thái do dự án phát triển mang lại quy thành tiền, để đưa vào bảng tính toán. Các nhà đầu tư thông thường không đưa chi phí này vào báo cáo tính toán dòng tiền dự án.

Dưới góc độ quản lý, nhà nước cần biết bên cạnh chi phí, lợi ích đem lại cho chủ đầu tư, thì chi phí thiệt hại môi trường là bao nhiêu. Các chi phí này nên được liệt kê, tính toán đưa vào bởi đây là chi phí mà người dân xung quanh, cả nước và thế hệ tương lai gánh chịu.

Mặc dù phân tích lợi ích chi phí tại Việt Nam vẫn còn là khái niệm mới, nhưng ở Mỹ thì luật hóa điều này hơn 100 năm trong Đạo luật quản lý nước. Về mặt khoa học, cũng như kinh nghiệm quản lý đặc biệt về ứng xử với hệ sinh thái, hàng hóa tài nguyên môi trường, chúng ta cần phải phân tích lợi ích chi phí thì mới đưa ra quyết định chính xác được rằng dự án có thực sự đem lại lợi ích cho xã hội hay không. Nếu chỉ đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư chứ không tạo ra lợi ích xã hội thì cũng không nên thực hiện dự án.

Đô thị hóa trong giai đoạn 1997-2017 là một trong những nguyên nhân tiêu biểu khiến diện tích rừng ngập mặn ở một vài tỉnh ven biển khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long biến mất. Nguồn: NVCC.

Ngoài việc cần tính đủ tính đúng các chi phí của dự án để rộng đường thông tin, quản lý dự án liên quan đến hàng hóa đặc biệt là môi trường cần theo nguyên tắc nào khác?

Một dự án khi vận hành, xây dựng thì bao giờ cũng có thiệt hại về đa đạng sinh học và hệ sinh thái, nên phải thực hiện bồi hoàn lại đa dạng sinh học. Điều này nghĩa là dự án gây thiệt hại bao nhiêu cho hệ sinh thái thì phải có kế hoạch đền bù khi dự án tiến hành mới được thông qua, ví dụ chặt 100ha rừng để mở đường thì phải trồng lại 100 ha rừng bên cạnh, trả lại ở mức bằng đó hoặc hơn đó.

Thêm nữa, dự án cũng phải thực hiện chi trả dịch vụ hệ sinh thái. Nghĩa là sử dụng dịch vụ nào của hệ sinh thái cung cấp thì phải trả tiền cho dịch vụ nhận được chứ không phải miễn phí.

Nhóm công cụ này thực tế đã có một số nơi áp dụng thí điểm dù chưa được luật hóa. Điển hình như Nhà máy nước Sawaco, đơn vị sử dụng nguồn nước để tạo ra nước sạch, chi trả tiền dịch vụ cho người bảo vệ rừng đầu nguồn ở tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai.

Phổ biến hơn là một số nhà máy thủy điện. Nguồn nước đầu vào tuy là miễn phí, nhưng để đảm bảo nguồn nước thì nhờ vào rừng ở thượng nguồn, có chức năng cung cấp nước cho hạ lưu, giữ nước, lọc nước [để giảm bùn lắng đọng trong lòng hồ thủy điện – PV]. Chúng giúp giảm chi phí cho thủy điện thì thủy điện cũng nên trả tiền cho những người quản lý rừng đầu nguồn.

Nhưng các công cụ nêu trên vẫn sẽ nằm ở thì tương lai?

Rất thú vị là các công cụ này đã có mặt trong Luật bảo vệ môi trường sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm ngoái. Trong điều 21 chương 2 có quy định các dự án cần phải thực hiện việc bồi hoàn đa dạng sinh học. Bộ tài nguyên môi trường hiện cũng đang tiến hành sửa đổi Luật Đa dạng sinh học, lần gần nhất là vào năm 2008, cũng sẽ chính thức đưa công cụ này vào.

Một điểm đáng kể khác là chương 11 trong Luật bảo vệ môi trường là chương hoàn toàn mới, quy định công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường, có thể xem đây là bước phát triển mới về tầm nhìn để bảo vệ hệ sinh thái. Điều 138 có nói về công cụ chi trả dịch vụ hệ sinh thái. Các cơ quan hữu trách vẫn đang xây dựng các văn bản dưới luật cụ thể để hướng dẫn.

Quan điểm chung là hệ sinh thái từ trước đến nay đã mang lại cho anh nhiều lợi ích, trước giờ anh xài dịch vụ miễn phí thì nay cần phải trả tiền. Cơ quan quản lý thu được nguồn tài chính đầu tư ngược lại để bảo vệ môi trường, để hệ sinh thái tiếp tục cung cấp dịch vụ đó cho người trả tiền.

Còn với các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án nằm trong Khu Dự trữ sinh quyển, sẽ phải thực hiện những quy định mới này trong tương lai. Nếu dự án không ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội sau khi phân tích chi phí lợi ích, thực hiện bồi hoàn đa dạng sinh học và chi trả dịch vụ hệ sinh thái, nhà đầu tư vẫn có lợi nhuận tài chính thì thực hiện dự án đầu tư đó vẫn tốt thôi.

Xin cảm ơn ông!

► Xem thêm: Rừng ngập mặn ĐBSCL trị giá bao nhiêu?

Nguồn: Báo Kinh tế Sài Gòn online

Chia sẻ

Ngày: 17-07-2019

Lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường [DTM]

  1. Đánh giá tác động môi trường là gì?

       Đánh giá tác động môi trường hay viết tắt là ĐTM [hoặc tiếng Anh là EIA: Environmental Impact Assessment]  là việc phân tích, dự báo các tác động của dự án đầu tư đến môi trường để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó [ Theo khoản 23, điều 3 giải thích từ ngữ, Chương I Quy định chung, luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13].

Mục tiêu chính của việc lập đánh giá tác động môi trường là giúp các cơ quan chức năng kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp đối với môi trường như thế nào, từ đó có thể đưa ra những giải pháp kịp thời nếu công ty thải ra chất thải có tương tác xấu đến môi trường. song song tạo sự ràng buộc của tổ chức với môi trường xung quanh, bảo vệ môi trường trong lành hơn.

  1. Tại sao phải thực hiện ĐTM ?

- Thực hiện yêu cầu của luật bảo vệ môi trường [BVMT] Việt Nam.
         - Là một nội dung của dự án tiền khả thi của dự án phát triển.Thiếu ĐTM, dự án sẽ không được phê duyệt.

  1. Vai trò và ý nghĩa trong việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

- Vai trò lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

+ Là công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa.

+ Giúp chọn phương án tốt để khi thực hiện dự án phát triển ít gây tác động tiêu cực đến môi trường.

+ Giúp nhà quản lý nâng cao chất lượng của việc đưa ra quyết định.

+ Là cơ sở để đối chiếu khi có thanh tra môi trường.

+ Góp phần cho phát triển bền vững.

- Ý nghĩa khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

+ Khuyến khích quy hoạch tốt hơn.

+ Tiết kiệm thời gian và tiền trong phát triển lâu dài.

+ Giúp Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn.o cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM:

4. Cơ sở pháp lý áp dụng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM

- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ban hành ngày 23/06/2014, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015.

- Nghị định 18/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/02/2015, Nghị định của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến

lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTMkế hoạch bảo vệ môi trường.

- Thông tư 27/2015/TT-BTNMT , ban hành ngày 29/05/2015, của bộ Tài Nguyên Môi Trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

  1. Đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường quy định tại phụ lục II nghị đinh số 18/2015/NĐ-CP [ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường].

Tại phụ lục II này bao gồm hầu hết tất cả dự án: nhóm các dự án về xây dựng, nhóm các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, dự án về giao thông, dự án về điện tử, năng lượng, phóng xạ, dự án liên quan đến thủy lợi, khai thác rừng, trồng trọt, dự án về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dự án về dầu khí, dự án về xử lý, tái chế chất thải, dự án về cơ khí, luyện kim, dự án chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ, … và các dự án khác

Trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường, chủ dự án phải tiến hành tham vấn Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn [ Ủy ban nhân dân cấp xã] nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bới dự án.

  1. Lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường

Quy định tại điều 15 NĐ 18/2015/NĐCP cần lập lại ĐTM trong các trường hợp:

- Không triển khai dự án trong 24 tháng từ thời điểm quyết định phê duyệt ĐTM

- Thay đổi địa điểm thực hiện dự án

- Bổ sung hạng mục đầu tư có quy mô, công suất tương đương với các dự án thuộc phụ lục II NĐ 18/2015/NĐ-CP.

- Có thay đổi quy mô, công suất hoặc những thay đổi khác dẫn đến các công trình bảo vệ môi trường không có khả năng giải quyết được các vấn đề môi trường gia tăng.

- Theo đề nghị của chủ dự án.

  1. Thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Theo khoản 1 điều 14 của nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định, thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định như sau:

  1. Bộ tài nguyên và Môi trườngtổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án quy định tại phụ lục III nghị định này, thường là dự án có quy mô lớn hoặc dự án nằm trên địa bàn 2 tỉnh trờ lên hoặc không xác định được trách nhiệm quản lý hành chính của UBND cấp tỉnh.
  2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn của mình, trừ các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ TNMT, các bộ và cơ quan ngang Bộ.

Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện thông qua hội đồng thẩm định do người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thành lập với ít nhất 7 thành viên.

Theo khoản 2 điều 14 của nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định:

  1. Thời hạn thẩm định và phê duyệt hồ sơ đánh giá tác động môi trường

Tags:

  • Kế hoạch Bảo vệ môi trường
  • SỔ ĐĂNG KÍ CHỦ NGUỒN THẢI
  • GIẤY PHÉP XẢ NƯỚC THẢI VÀO NGUỒN NƯỚC
  • GIẤY PHÉP KHÁI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC MẶT
  • GIẤY PHÉP KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
  • ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐƠN GIẢN
  • ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHI TIẾT
  • Báo cáo Hoàn thành Đánh giá Tác động Môi trường

Video liên quan

Chủ Đề