Chiến dịch nào của gia cát lượng không dùng lửa

Hác Chiêu là một nhân vật tương đối lạ lẫm trong Tam Quốc. Chiến công nổi bật nhất của vị tướng này là lần chỉ với 1.000 quân đã chặn đứng đợt công thành Trường Thương của 40.000 quân Thục do đích thân Gia Cát Lượng thống lĩnh.

Cuối năm 228, trong bối cảnh Đại đô đốc Đông Ngô là Lục Tốn giao tranh Đại tư mã Tào Hưu của Tào Ngụy ở Thạch Bình, Thừa tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng thừa cơ tổ chức cuộc Bắc phạt lần thứ hai, tiền về hướng Trần Thương.

Gia Cát Lượng ban đầu cho rằng Trần Thương chỉ là một thành nhỏ bé bị bỏ bê nhiều năm, nên chỉ mang theo 1 tháng lương thảo cùng 40.000 quân vội vã lên đường.

Tuy nhiên, ngay sau khi Gia Cát Lượng thất bại ở lần phạt bắc đầu tiên, Tào Chân đã đoán rằng bước tiếp theo Gia Cát Lượng nhất định sẽ đánh Trần Thương. Do đó, ông đã cử Hác Chiêu và Vương Sinh đến đó trấn thủ, đồng thời tu sửa lại tường thành.

Do đó, khi Gia Cát Lượng dẫn quân tới nơi cảm thấy vô cùng bất ngờ khi thấy thành trì kiên cố. Tuy vậy lúc đó trong thành Trần Thương cũng chỉ có hơn ngàn binh sĩ.

Vẫn giữ thói quen thận trọng, Gia Cát Lượng sai sứ giả đến dụ hàng Hác Chiêu, đồng thời thăm dò tình hình.

Tuy nhiên, Hác Chiêu nhận định Gia Cát Lượng hành quân gấp, không mang nhiều lương thực, nói với Vương Sinh rằng chỉ cần cố thủ 1 tháng, thì quân Thục sẽ tự động rút lui. Sau đó Hác Chiêu bố trí cung thủ, bày thế phòng ngự, tỏ rõ quyết tấm tử thủ.

Đánh giá thành Trần Thương kiên cố ngoài dự đoán nhưng chỉ có hơn ngàn binh lính, quân tiếp viện của nhà Ngụy lại khó đến kịp trước mùa xuân, nên Gia Cát Lượng với quân số áp đảo vẫn quyết định công thành.

Trống hiệu nổi lên, Gia Cát Lượng cho binh sĩ dựng những chiếc thang mây cao hàng thước, mỗi thang vài ba người trèo lên công thành. Từ trên thành Hách Chiêu cho quân dùng tên lửa bắn xuống như mưa, đốt cháy hết tháng mây của quân Thục.

Gia Cát Lượng sau đó cho quân ngày đêm lắp dựng chiến xa, cho quân leo lên chiến xa mà truyền vào thành. Hách Chiêu vội vàng sai quân vận đá đến, rồi đục lỗ thủng luồn dây sắn buộc vào, quăng xuống đập xe. Xe vỡ tan tành, quân Thục không sao vào được. Hai bên ngày đêm giao chiến hơn 20 ngày, quân Thục không làm cách nào phá được thành.

Trên thực tế, Hác Chiêu (tự Bá Đạo) không phải là một vị tướng tầm thường. Trước khi trấn thủ Trần Thương, ông từng làm tướng trấn giữ quận Hà Tây hơn chục năm, nhiều lần bình định các cuộc nổi loạn của Điển Diễn, Hoàng Hoa hay Trương Tiến.

Hác Chiêu là một người rất có tiếng tăm ở vùng này nhưng do địa phận cách khá xa Trung Nguyên, nên đương thời ít ai biết tới. Nói cách khác, Hác Chiêu là tướng từng kinh qua hàng trăm trận chiến, dày dạn kinh nghiệm, nên việc có thể tùy cơ ứng biến với đấu pháp của Gia Cát Lượng hoàn toàn không có gì lạ.

Dùng đủ mọi cách không chiếm được thành, lương thực lại sắp cạn kiệt, lúc này Gia Cát Lượng lại nghe tin quân chi viện của Trương Cáp sắp đến nơi nên ông đành phải lui quân. Kết thúc chiến dịch phạt Bắc lần 2 một cách chóng vánh.

Gia Cát Lượng (181-234) là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc thời Tam quốc. Ông là người hình thành nên thế chân vạc giữa nhà Thục Hán, Đông Ngô và Tào Ngụy trong suốt 60 năm. Ông cũng là nhân vật rất quan trọng trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Loạt bài này sẽ đi sâu lý giải những bí ẩn trong cuộc đời nhà quân sự tài ba Trung Quốc, trong đó có nhiều chi tiết không được đề cập trong tiểu thuyết.

Khi nhắc đến mối quan hệ giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng, dân gian vẫn thường lưu truyền câu chuyện Lưu Bị ba lần đến lều tranh tìm Gia Cát Lượng.

Theo nhiều tư liệu lịch sử ghi chép, hai người “nhất kiến như cố” (vừa gặp đã quen). Lưu Bị sau này còn nói: “Cô gia nay có Khổng Minh, giống như cá gặp nước vậy”. Chính điều này làm hậu thế về sau cho rằng quan hệ quân thần giữa hai người là vô cùng khăng khít.

Tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa cũng có viết, Lưu Bị vô cùng tín nhiệm Gia Cát Lượng, chuyện quân chính đại sự nào cũng tìm Lượng để lên kế hoạch, thậm chí Lượng nói gì, Lưu Bị cũng nghe theo. Nhưng mối quan hệ giữa hai người có thực sự khăng khít, như “cá với nước”?

Không hoàn toàn được Lưu Bị trọng dụng

Các nhà sử học Trung Quốc thời xưa và nay đã đặt ra nhiều câu hỏi về vấn đề này. Nhờ các tài liệu lịch sử mà các nhà sử học đã có thể chứng minh, quan hệ giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng không hề thân thiết như "Tam Quốc Diễn Nghĩa" khắc họa.

Thứ nhất, Gia Cát Lượng không phải người được Lưu Bị ưu ái nhất ở nước Thục Hán. Sau chiến thắng lịch sử trong trận Xích Bích nhờ công lớn của Gia Cát Lượng, Lưu Bị mở chiến dịch giành Tây Xuyên.

Gia Cát Lượng được giao trấn giữ Kinh Châu còn Lưu Bị vẫn tin tưởng dùng Bàng Thống và Pháp Chính để đánh Tây Xuyên. Mãi về sau, Lưu Bị mới điều Gia Cát Lượng đến mặt trận này.

Thứ hai, trong chiến dịch tiến đánh Hán Trung, Pháp Chính vẫn là trợ thủ chính của Lưu Bị. Gia Cát Lượng chỉ đóng vai trò ở phía sau, làm công tác hậu cần mà không được tham mưu. Vị trí của Gia Cát Lượng xếp sau Pháp Chính ngay cả khi Lưu Bị đã nắm trong tay Hán Trung.

Thứ ba, Lưu Bị hết mực tin tưởng Quan Vũ, giao cho vị tướng này trấn thủ Kinh Châu. Nhưng kết cục lại trở nên bi thảm, Kinh Châu thất thủ. Nếu như Lưu Bị điều Quan Vũ đến Tứ Xuyên, Gia Cát Lượng và Triệu Vân ở lại Kinh Châu thì lịch sử có thể đã thay đổi.

Thứ tư, Sau khi để mất Kinh Châu, Lưu Bị quyết đánh Đông Ngô trong khi Gia Cát Lượng không được tham gia. Lưu Bị cũng không quan tâm đến lời can ngăn của Lượng. Chỉ đến khi quân Thục bị lửa thiêu rụi trong thảm bại, Gia Cát Lượng mới thở dài và nói: “Nếu có Pháp Chính ở đây tất khuyên được Chủ không tiến quân sang phía đông”.

Câu nói này khẳng định, Gia Cát Lượng không phải số một trong mắt Lưu Bị mà là Pháp Chính.

Quan điểm trái ngược

Gia Cát lượng không được Lưu Bị trọng dụng như trong Tam Quốc diễn nghĩa?

Vì sao lại xảy ra những mâu thuẫn như vậy. Một số học giả Trung Quốc đưa ra hai lý do giải thích vấn đề này.

Thứ nhất, Lưu Bị và Gia Cát Lượng có tư duy chiến lược khác biệt. Theo "Long Trung đối sách", Gia Cát Lượng cho rằng cách duy nhất để Lưu Bị củng cố quyền lực chỉ có thể là chiếm Kinh Châu và Ích Châu.

Kinh Châu khi đó do Lưu Biểu trấn giữ. Lưu Biểu đã già lại không có người kế nghiệp tài giỏi. Kinh Châu sẽ giúp đường vào nước Thục sẽ rộng mở, đồng thời Hán Thủy và Miên Thủy ở hai bên sẽ bảo vệ vùng đất quan trọng này.

Trong khi đó, Lưu Chương là người chiếm giữ Ích Châu. Người này cũng không phải bậc gian hùng tới mức không thể đánh bại. Ích Châu chính là đất khởi nghiệp của Bái Công Lưu Bang, vốn cực kỳ hiểm trở và sản vật phong phú.

Gia Cát Lượng toan tính, sau khi chiếm Kinh Châu và Ích Châu, Lưu Bị chỉ còn việc ổn định nhà Thục, xây dựng quân đội. Phía Bắc Lưu Bị địch Tào Tháo, đông hòa Tôn Quyền, chờ thời cơ thiên hạ có biến để tiêu diệt cả hai đối thủ chính, thống nhất Trung Quốc.

Nhưng Lưu Bị lại là người cơ hội, chỉ muốn thành công ngay lập tức mà thiếu đi tầm nhìn chiến lược. Lưu Bị chỉ muốn chiếm cứ một phương, làm vương ở nước Thục nên không coi trọng ý tưởng liên kết với Đông Ngô mà Gia Cát Lượng đề xuất.

Lưu Bị cũng không hoàn toàn tin tưởng Gia Cát Lượng. Anh trai Gia Cát Lượng là Gia Cát Cẩn giữ trọng trách lớn ở nước Đông Ngô, từng là sứ thần nước Ngô sang Kinh Châu thương lượng.

Đối mặt với mối quan hệ phức tạp ấy, Lưu Bị khó có thể xóa bỏ được mối nghi ngờ cá nhân với Gia Cát Lượng.

Nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, Vương Phu Chi (1619-1692), đã có những phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng trong cuốn “Độc thông niên luận”.

Gia Cát Lượng muốn giữ Hán diệt Tào. Nếu không liên kết với Đông Ngô thì Thục Hán không thể có thời gian Bắc phạt. Còn ý đồ của Lưu bị ngay từ ngày đầu gặp Gia Cát Lượng đã không thay đổi.

Lưu Bị muốn tự tực tự cường, thành lập vương quốc nên đã cùng liên kết với Quan Vũ. Vì vậy, Lưu Bị không tin Gia Cát Lượng như Tôn Quyền ở Đông Ngô tin tưởng Gia Cát Cẩn. Lưu Bị không thể xua tan mối nghi ngờ trong quan hệ giữa Gia Cát Lượng và nhà Đông Ngô.

Về việc gửi con ở Bạch Đế Thành, Lưu Bị để Gia Cát Lượng nhận Lưu Thiện làm con nuôi có thể coi là chuyện cực chẳng đã.

Khi Lưu Bị sắp lâm chung, mâu thuẫn giữa Ích Châu và Kinh Châu đã trở nên vô cùng sâu sắc, Lưu Thiện lại không phải là mẫu quân vương kiệt xuất, không đủ khả năng xử lý tình huống phức tạp.

Pháp Chính và Bàng Thống đã qua đời, người duy nhất Lưu Bị có thể tin tưởng giao vận mệnh của nước Thục chỉ còn Gia Cát Lượng.

Có thể nói, mối quan hệ quân thần như “cá với nước” giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng mà “Tam Quốc diễn nghĩa” mô tả, có thể chỉ là cách để tác giả La Quán Trung lưu lại ấn tượng tốt đẹp về các vĩ nhân trong lòng hậu thế.

_________________

Như vậy mới thấy, việc dùng người tin người, trao quyền... nhiều lúc cũng phụ thuộc nhiều vào định tính của ông chủ và đồng thuận trong quan điểm (intention & vision) chứ không phải tài-giỏi là tất cả.